
Mua bán Bitcoin ở Việt Nam có vi phạm pháp luật? (Ảnh minh họa)
Bitcoin là gì?
Theo Ngân hàng Trung ương Châu Âu thì Bitcoin được hiểu là tiền ảo, theo đó tiền ảo là một loại tiền kỹ thuật số không có sự quản lý, được phát hành bởi những người phát triển phần mềm cũng thường là người kiểm soát hệ thống và được sử dụng, chấp nhận thanh toán giữa các thành viên của một cộng đồng ảo nhất định.
Như vậy, có thể hiểu Bitcoin là loại tiền chỉ được công nhận, giao dịch trong một cộng đồng, tổ chức. Những cộng đồng này tự tạo ra bitcoin để lưu hành nhằm mục đích dùng để trao đổi, mua bán hàng hoá, dịch vụ.
Bitcoin hoạt động như thế nào?
Bitcoin hiện nay được hoạt động dựa trên công nghệ Blockchain. Cụ thể, Blockchain sẽ cung cấp một cuốn sổ cái có chứa tất cả các giao dịch trên mạng lưới nhưng không để công khai thông tin của những người thực hiện giao dịch.
Khi người tham gia thực hiện giao dịch, máy tính sẽ thực hiện xác thực giao dịch đó. Trường hợp không có bất kỳ sự gian lận nào thì giao dịch của người tham gia sẽ được thêm vào sổ cái, tức quá trình chuyển tiền đã thành công
Mua bán Bitcoin ở Việt nam có vi phạm pháp luật không?
1. Bitcoin có phải là tiền?
Theo Điều 16, 17 Luật Ngân hàng nhà nước 2010 quy định về đơn vị tiền, bitcoin không được xem là đơn vị tiền của nhà nước Việt Nam.
Điểm a khoản 2 Điều 6 Luật Ngân hàng nhà nước 2010 quy định về ngoại tệ, bitcoin không được xem là ngoại tệ và cũng không phải là đối tượng của ngoại hối vì bitcoin không phải đồng tiền của bất cứ một quốc gia nào trên thế giới hiện nay.
Bên cạnh đó, tại Công văn 5747/NHNN-PC năm 2017 có đề cập như sau:
Tiền ảo nói chung và Bitcoin, Litecoin nói riêng không phải là tiền tệ và không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam. Việc phát hành, cung ứng và sử dụng tiền ảo nói chung và Bitcoin, Litecoin nói riêng (phương tiện thanh toán không hợp pháp) làm tiền tệ hoặc phương tiện thanh toán là hành vi bị cấm.
Tóm lại, theo quy định của pháp luật Việt Nam, bitcoin không phải là đơn vị tiền, cũng không phải là ngoại tệ.
2. Mua bán Bitcoin ở Việt nam có vi phạm pháp luật không?
Hiện nay, việc kinh doanh Bitcoin không được quy định trong bất cứ văn bản nào trong hệ thống pháp luật Việt Nam, cụ thể:
- Tại Quyết định 27/2018/QĐ-TTg, kinh doanh bitcoin không được liệt kê trong hệ thống ngành, nghề kinh tế Việt Nam.
- Tại Điều 6 Luật Đầu tư 2020, Bitcoin không được liệt kê là một trong những ngành, nghề kinh doanh bị cấm đầu tư.
Hiện nay, pháp luật Việt Nam không chính thức cho phép kinh doanh Bitcoin nhưng lại cũng không quy định rõ việc cấm kinh doanh Bitcoin. Vì vậy, tình trạng kinh doanh và đầu tư đối tượng này vẫn được diễn ra.
Trong bối cảnh hiện nay, việc mua bán Bitcoin chưa bị cấm một cách trực tiếp tại Việt Nam. Tuy nhiên, vì Bitcoin chưa được công nhận là một loại tiền tệ hợp pháp, nên việc sử dụng nó thay cho VND hoặc các phương tiện thanh toán hợp pháp khác là hành vi vi phạm pháp luật.
Như vậy, việc mua bán Bitcoin là không vi phạm pháp luật. Tuy nhiên việc sử dụng Bitcoin làm phương thức thanh toán sẽ được coi là hành vi vi phạm pháp luật.
Bất kì cá nhân hay tổ chức nào dùng Bitcoin làm phương tiện thanh toán tùy mức độ sẽ bị phạt hành chính hoặc truy tố trách nhiệm hình sự được quy định cụ thể như sau:
- Đối với xử lý hành chính:
Căn cứ Điểm d Khoản 15 Điều 1 Nghị định 143/2021/NĐ-CP thì phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi phát hành, cung ứng, sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Đối với truy cứu trách nhiệm hình sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 206 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng như sau:
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây gây thiệt hại cho người khác về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:“
…
h) Phát hành, cung ứng, sử dụng phương tiện thanh toán không hợp pháp; làm giả chứng từ thanh toán, phương tiện thanh toán; sử dụng chứng từ thanh toán, phương tiện thanh toán giả;
Phạm Việt Trinh
64
HỎI ĐÁP PHÁP LUẬT LIÊN QUAN