Liệu NHNN có thành công trong việc giúp nền kinh tế tăng
trưởng mà không làm lạm phát tăng mạnh?
Mở
van tín dụng
Ngay trong những ngày đầu
quý II, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đưa ra định hướng trong điều hành chính
sách tiền tệ và tín dụng trong thời gian tới, trong đó nổi bật là việc hạ lãi
suất chủ chốt, cho phép các TCTD thực hiện việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ và
đưa nhiều nhóm đối tượng vay vốn ra khỏi lĩnh vực không khuyến khích
cho vay.
Chỉ trong vòng chưa đầy một tháng, lãi
suất chủ chốt tiếp tục được điều chỉnh hạ 1% và đây là lần thứ hai trong năm
nay NHNN điều chỉnh hạ lãi suất. Cụ thể, kể từ ngày 11/4, lãi suất tái cấp vốn giảm
xuống 13% từ 14%, lãi suất tái chiết khấu xuống 11% từ 12%, trần lãi suất huy động
xuống 12% từ 13%, lãi suất trên thị trường OMO giảm xuống từ 13% xuống 12%, lãi
suất tín phiếu cũng giảm 1,25% so với trước đó, từ 11,5%, 12% và 12,5%, tương ứng
với kỳ hạn 28, 91 và 182 ngày, xuống còn 10,25%, 10,75% và 11,25%/năm. Việc hạ
mạnh hàng loạt lãi suất chủ chốt trong chưa đầy một tháng kỳ vọng lãi suất cho
vay sớm hạ nhiệt trong thời gian tới.
Về hoạt động tín dụng, nhằm đáp ứng kịp
thời các nhu cầu vốn của dự án, phương án sản xuất – kinh doanh có hiệu quả,
phù hợp với khả năng huy động vốn và chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng tối đa theo
quy định của NHNN… một mặt, NHNN yêu cầu các TCTD thực hiện việc cơ cấu lại thời
hạn trả nợ đối với các khoản vay không trả nợ đúng hạn do tác động của các yếu
tố kinh tế trong nước và quốc tế làm cho sản xuất, kinh doanh gặp khó khăn, chậm
tiêu thụ và xuất khẩu sản phẩm, ứ đọng tồn kho hàng hoá; tiếp tục xem xét cho
vay mới đối với các nhu cầu vốn vay có hiệu quả và đảm bảo khả năng trả nợ. Mặt
khác, vẫn kiểm soát tỷ trọng dư nợ cho vay đối với lĩnh vực không khuyến khích
không vượt quá 16 % tổng dư nợ cho vay, nhưng NHNN đã mở rộng đối tượng cho vay
đối với 3 lĩnh vực không khuyến khích. Cụ thể:
Đối với lĩnh vực kinh doanh chứng khoán,
mở rộng đối tượng cho vay đối với người lao động của công ty nhà nước để mua cổ
phần phát hành lần đầu khi chuyển công ty nhà nước này thành công ty cổ phần.
Đối với lĩnh vực đầu tư, kinh doanh bất động sản, mở rộng đối
tượng cho vay đối với người có nhu cầu vốn: xây dựng, sửa chữa và mua nhà để ở,
nhà để ở kết hợp với cho thuê; xây dựng, sửa chữa và mua nhà để bán, cho thuê;
xây dựng các công trình, dự án phát triển nhà ở trong khu đô thị.
Đối với vay tiêu dùng, mở rộng cho vay đối với người có nhu cầu
vốn: xây dựng, sửa chữa nhà và mua nhà để ở; mua phương tiện đi lại; mua đồ
dùng, trang thiết bị gia đình; chi phí học tập và chữa bệnh trong nước.
Nhiều
rủi ro tiềm ẩn
Rủi ro trước tiên phải kể đến là tình trạng
nợ xấu của hệ thống TCTD đang có xu hướng trầm trọng thêm. Đến cuối tháng
10/2011, nợ xấu toàn hệ thống là 85.300 tỷ đồng, tăng 35.500 tỷ đồng so với cuối
năm 2010 và chiếm 3,39% tổng dư nợ nền
kinh tế. Tính đến thời điểm hiện tại, tình hình nợ xấu còn lớn hơn rất nhiều
khi hàng loạt các công ty bị phá sản, đồng thời các ngành, nghề liên quan đến
BĐS (xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng…) không thể tiêu thụ được hàng hóa dẫn
đến tình trạng ứ đọng hàng tồn kho và lẽ đương nhiên những doanh nghiệp này
không thể thực hiện nghĩa vụ tài chính đúng hạn. Theo Thống đốc NHNN, tỷ lệ nợ
xấu hiện tại ước khoảng 3,6% tổng dư nợ. Tuy nhiên, số liệu nợ xấu nêu trên vẫn
chưa phản ánh đúng thực chất rủi ro tín dụng của các TCTD do tiêu chuẩn phân loại
nợ hiện nay còn bất cập và TCTD thường không phân loại nợ đúng theo quy định của
NHNN. Hơn nữa, chế độ kế toán được các TCTD sử dụng theo hệ thống chuẩn mực kế
toán Việt Nam, theo đánh giá
của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm, nếu thực hiện theo hệ thống chuẩn mực kế
toán quốc tế thì nợ xấu của Việt Nam có thể cao gấp 4 lần con số nêu
trên.
Rủi ro thứ hai phải kể đến là mức độ tập
trung tín dụng rất lớn vào các ngành, lĩnh vực kinh doanh rủi ro và không có hiệu
quả cao như BĐS, doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế. Đến cuối tháng 9/2011,
dư nợ cho vay đầu tư, kinh doanh BĐS là 203.600 tỷ đồng, tương đương 8,15% tổng dư nợ tín dụng. Tổng
dư nợ tín dụng liên quan đến BĐS (bao gồm cho vay đầu tư, kinh doanh BĐS + tín
dụng được bảo đảm bằng bất động sản + đầu tư trái phiếu liên quan BĐS) là
1.430.411 tỷ đồng, chiếm 57,27% tổng dư nợ tín dụng. NHNN kỳ vọng, nếu mở van tín dụng lĩnh vực này không chỉ giúp
các dự án nhà ở bán được mà còn giúp giải phóng hàng tồn kho của các lĩnh vực
khác như sắt thép, xi măng và tạo công ăn việc làm, tạo sự luân chuyển nguồn vốn
trong nền kinh tế; đồng thời nợ xấu của ngân hàng cũng giảm.
Thứ ba, hệ thống doanh nghiệp
phụ thuộc vào vốn tín dụng ngân hàng nhưng hiệu quả kinh doanh thấp, tài chính
kém lành mạnh. Theo báo cáo tài chính của 2.878 doanh nghiệp thuộc 20 ngành
kinh tế được Trung tâm Thông tin tín dụng (NHNN) xếp hạng doanh nghiệp, hệ số nợ
so vốn chủ sở hữu bình quân năm 2010 là 164,6%, trong đó chỉ có 2 ngành có hệ số
nợ 60%, 13 ngành có hệ số nợ từ trên 100% đến 200% và 5 ngành có hệ số nợ trên
200%. Việc
NHNN yêu cầu các TCTD cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với các khoản vay không trả
nợ đúng hạn; tiếp tục xem xét cho vay mới đối với các nhu cầu vốn vay có hiệu
quả và đảm bảo khả năng trả nợ có khả năng dẫn tới tình trạng nợ xấu tiếp tục
gia tăng vì theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử
dụng dự phòng rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD thì:
i) Toàn bộ dư nợ của một khách hàng tại một TCTD phải được
phân loại vào cùng một nhóm nợ. Đối với khách hàng có từ 2 khoản nợ trở lên tại
TCTD mà có bất cứ một khoản nợ nào bị phân loại vào nhóm có rủi ro cao hơn các
khoản nợ khác, TCTD phải phân loại lại các khoản nợ còn lại của khách hàng vào
nhóm có rủi ro cao nhất đó;
ii) TCTD phải chủ động phân loại các khoản nợ được
phân loại vào các nhóm nợ có rủi ro cao hơn theo đánh giá của TCTD khi xảy ra một
trong các trường hợp sau đây: có những diễn biến bất lợi tác động tiêu cực đến
môi trường, lĩnh vực kinh doanh của khách hàng; Các khoản nợ của khách hàng bị
các TCTD khác phân loại vào nhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn; Các chỉ tiêu tài
chính của khách hàng (về khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, tỷ lệ nợ trên
vốn và dòng tiền) hoặc khả năng trả nợ của KH bị suy giảm liên tục hoặc có biến
động lớn theo chiều hướng suy giảm... Hiện tại, nhiều TCTD vẫn chưa xây dựng được
Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ mang tính định lượng và định tính nên việc phân
loại nợ vẫn chưa được thực hiện nghiêm túc.
Thứ tư, mức độ an toàn của hệ
thống ngân hàng Việt Nam thấp và dễ đổ vỡ trước các tác động bất lợi và đột ngột
từ môi trường kinh doanh do: i) Chất lượng tài sản thấp, nợ xấu lớn và đang có
xu hướn tăng nhanh như đã nêu trên; ii) Hệ số an toàn vốn của các TCTD vẫn thấp
(đạt 11,92% tính đến tháng 10/2011), chưa tuân thủ đầy đủ chuẩn mực quốc tế (Basel
I) và thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực.
Cuối cùng, mặc dù chưa thể lượng
hóa được cụ thể nhưng những rủi ro tiềm ẩn trong việc lạm phát có thể tăng trở
lại là hoàn toàn có khả năng. Sở dĩ lạm phát có thể gìm lại được trong quý I là
do giá lương thực, thực phẩm đã chững lại, thậm chí giá nhiều mặt hàng thậm chí
còn giảm so với cuối năm 2011. Việc cởi trói gần như toàn bộ lĩnh vực BĐS, giá
cả trong lĩnh vực này có khả năng tăng mạnh sau một thời gian dài bị kìm hãm và
nếu không quản lý thị trường tốt thì viễn cảnh năm 2009 tiếp tục tái hiện và mục
tiêu kiềm chế lạm phát được Chính phủ bấy lâu nay xây dựng có thể sẽ tan biến.
Nguyễn Quân