Chi tiết bản so sánh Bộ luật Hình sự hiện hành và dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)

Sau đây là bài viết có nội dung về chi tiết bản so sánh Bộ luật Hình sự hiện hành và dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi).

Chi tiết bảng so sánh Bộ luật Hình sự hiện hành và dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)

Chi tiết bản so sánh Bộ luật Hình sự hiện hành và dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) (Hình từ Internet)

Ngày 3/4/2025, Bộ Tư pháp công bố hồ sơ thẩm định dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi). Trong đó, gồm có dự thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi, Bản so sánh dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) và Bộ luật Hình sự hiện hành và Tờ trình 155/TTr-BCA năm 2025 Tờ trình dự án Bộ luật Hình sự sửa đổi.

Bản so sánh dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)

Chi tiết bản so sánh Bộ luật Hình sự hiện hành và dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)

Theo đó, tại hồ sơ thẩm định dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi) thì Bộ Công an đã có bản so sánh Bộ luật Hình sự hiện hành và dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) với một số nội dung về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:

Điều 27. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

Điều 27. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù hoặc trên 500.000.000 đồng đối với pháp nhân thương mại phạm tội, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy tìm hoặc truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi tìm được người đó hoặc người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

Trên đây một nội dung trong bản so sánh Bộ luật Hình sự hiện hành và dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi).

151

tin noi bat
Tin mới
Các tin khác